Chia sẻ kinh nghiệm khi học Luật ở Mỹ

Học luật ở Mỹ từ lâu đã là điểm đến mong ước của bao nhiêu thế hệ người Việt cũng như sinh viên trên toàn thế giới. Để giúp các bạn có thêm thông tin và quyết định việc du học Mỹ ngành luật Kênh Du Học xin gửi đến các bạn bài viết chia sẻ về kinh nghiệm khi học luật ở Mỹ. 

Khái lược về ngành luật ở Mỹ

1. Trường luật trong hệ thống giáo dục ở Mỹ

          Tại Việt Nam, đại học luật được coi là trường đào tạo cử nhân bình thường như hầu hết các ngành khác. Sinh viên tham dự kì thi đại học để nhập học. Thời gian học tập là 4 năm. Tốt nghiệp các bạn được gọi là cử nhân luật.

          Tại các nước thông luật (common law), bao gồm Mỹ, trường luật được xếp vào nôm na là trường dạy nghề (professional school). Sinh viên luật được dạy rất nhiều môn kĩ năng mang tính thực tiễn (ví dụ như legal research, legal writing, negotiation, contract drafting, trial tactic,..). Thậm chí có khả năng ứng dụng để làm việc ngay khi đang học. Để được chấp nhận vào chương trình JD, ứng viên bắt buộc đã hoàn thành một bằng cử nhân đại học và có điểm thi LSAT (Law School Admission Test). Thời gian học là 3 năm. Tốt nghiệp các bạn được gọi là Juris Doctor (J.D.).

          Có nhiều ý kiến xung quanh việc hệ thống giáo dục nào tốt hơn. Ở Việt Nam không yêu cầu luật là chuyên ngành 2 thì sinh viên tiết kiệm được 4 năm học. Ở Mỹ thì những người hành nghề luật lại có background về những ngành khác. Ngoài ra, tuổi đời và kinh nghiệm làm việc khiến họ trưởng thành và thực tế hơn khi học luật. Mỗi hệ thống có điều hay dở riêng, quan trọng là bản thân tự biết mình hay dở thế nào để cố gắng hoàn thiện. Và ít ra với yêu cầu ở Mỹ, có thể chắc chắn rằng tất cả những người ngồi trong giảng đường trường luật hàng ngày đều thực sự muốn đi học. Họ học vì đam mê. Học vì động lực đồng tiền. Học vì khoản nợ học phí cả trăm nghìn đôla với chính phủ sẽ phải trả sau khi ra làm việc. Và khi giáo dục khiến người đi học thực sực muốn thu nhận kiến thức, thì đó đã là một thành công.

2. JD, LLM, SJD

          Tại Việt Nam, có 3 bằng cấp về đào tạo luật là cử nhân luật (Bachelor of Laws – LL.B.), thạc sĩ luật (Master of Laws – LL.M.) và tiến sĩ luật (Doctor of Philosophy in Laws – PhD).

          Tại Mỹ, các trường cũng cung cấp 3 bằng cấp về đào tạo luật gồm Juris Doctor (J.D.), Master of Laws (LL.M.), và Doctor of Juris Science (S.J.D). Thoạt nhìn có vẻ giống nhau nhưng thực chất lại khác biệt. JD có vẻ tương tự với LLB nhưng chương trình đào tạo cô đọng và có tập trung vào thực hành rất nhiều. Người muốn hành nghề luật tại Mỹ chỉ học JD là đủ, kể cả các giáo sư đại học phần lớn cũng chỉ có bằng JD. Trong khi đó, LLM và SJD là chương trình chỉ dành cho người nước ngoài đến Mỹ học tập. Điều này các bạn có thể thấy rõ trong phần giới thiệu về chương trình học trên website các trường. Ví dụ LLM là dành cho những người muốn tìm hiểu về pháp luật Mỹ. Hay SJD trong 3 năm là dành cho những người (scholars) muốn quay về đất nước của họ để nghiên cứu hoặc/và giảng dạy.

3. Tại sao sinh viên Mỹ học luật?

          Khi nói chuyện với sinh viên luật người Mỹ, bạn sẽ ngạc nhiên vì có rất nhiều lí do:

          – Ngành học cử nhân của họ ra không biết làm gì, quá khó để kiếm việc nên họ buộc học tiếp trường luật. Ví dụ phổ biến là các ngành political science, foreign relations, history, religion, women study, American literature,…

          – Công việc hiện tại của họ không kiếm được nhiều tiền nên họ muốn làm luật sư. Một luật sư ở Mỹ có thể kiếm trung bình từ $60,000 đến $200,000 một năm. Tất nhiên có những trường hợp kiếm được hơn thế rất nhiều. Trong khi nhiều nghề chỉ kiếm được khoảng $30,000/năm. Tính sơ qua trong 1 tháng họ phải chi trả khá nhiều khoản tiền (thuê apartment $1,200 và các phụ phí gas, heat, water,… + phí ô tô đi lại $500 + tiền ăn + tiền bảo hiểm +…), chưa kể khi có con (mặc dù giáo dục công lập ở Mỹ đến cấp 3 là miễn phí nhưng học phí trường tư và đại học rất đắt đỏ). Như vậy, với một công việc nhàng nhàng, họ không thể có cuộc sống thoải mái.

          – Muốn làm chính trị.          – Có ước mơ hành nghề luật. Có nhiều người đã có kế hoạch học luật ngay từ trước khi học cử nhân. Đây cũng là điều bình thường.

4. Tại sao sinh viên quốc tế học luật ở Mỹ?

          Câu trả lời cũng rất đa dạng:

          – Muốn tiếp tục học lên cao hơn và cần 1 nơi để đến, vậy thôi. Học xong đại học, tâm lý rất nhiều người là “cố nốt” lấy bằng thạc sĩ, tiến sĩ để tạo lợi thế xin việc về sau này. Chỉ cần tìm một nước để học. Và Mỹ, với diện tích một nửa Bắc Mỹ, đa dạng văn hóa, lối sống phóng khoáng tự do và ngành công nghiệp PR giáo dục khổng lồ luôn có vẻ hấp dẫn. Tất nhiên, Mỹ cũng là nơi tập trung nhiều trường đại học rất tốt. Vậy là xách vali lên và đi thế thôi! Nếu bạn học SJD thì yên tâm là học xong sẽ xách vali đi về vì ở Mỹ 99,99% không ai thuê SJD làm công việc thực hành luật cả.

          – Muốn tìm hiểu về hệ thống pháp luật Mỹ và có bằng luật của Mỹ để sau này thăng tiến trong công việc. Một luật sư người Trung Quốc mà có bằng thạc sĩ ở Mỹ thì cơ hội làm việc ở các công ty luật Mỹ có chi nhánh ở Trung Quốc của họ cao hơn. Thậm chí như vài người bạn cùng khóa tôi kể, khi làm việc ở Hong Kong, bằng luật ở Anh hoặc Mỹ đều rất có giá trị.

          – Muốn ở lại Mỹ làm việc. Câu chuyện muôn thuở là trước tiên bạn phải được cư trú một cách hợp pháp đã. Còn gì dễ hơn là đi học? Có nhiều người tới Mỹ học LLM và tập trung cao độ chỉ để thi lấy bằng luật sư tại đây (bar exam). Sau đó họ extend visa F1 thành OPT (Optional Practical Training) trong vòng 1 năm để đi intern cho các công ty, hi vọng sẽ có nơi nhận và chịu tài trợ visa đi làm (H-1B).

          Người không học JD tại Mỹ mà có bằng cử nhân luật ở nước ngoài chỉ có thể thi bar ở bang New York và California. Lưu ý là bạn nên kiểm tra xem mình có đủ điều kiện (eligible) hay không. Bar New York yêu cầu thí sinh học luật ở nước ngoài phải đã hoàn thành những yêu cầu đào tạo để có thể hành nghề luật ở nước đó (Rule 520.6 [b] [1]: “The foreign-educated applicant must have fulfilled the educational requirements for admission to the practice of law in a foreign country other than the United States.”). Điều này phụ thuộc vào hệ thống đào tạo luật từng nước. Ví dụ ở Trung Quốc, sinh viên hoàn thành 4 năm cử nhân luật là có thể thi bằng luật sư luôn. Nhưng ở Việt Nam, cử nhân luật còn phải hoàn thành chương trình đào tạo tại Học viện tư pháp rồi mới được thi. Như vậy có nhiều rủi ro  New York Bar Association sẽ từ chối cử nhân luật Việt Nam mới tốt nghiệp tham gia thi. Và khi bị từ chối, bạn sẽ không được trả lại khoản phí $750 đã nộp.

           – Muốn lấy bằng SJD để trở về nghiên cứu, giảng dạy tại nước họ.

          – Muốn tranh thủ xây dựng networking với các giáo sư, luật sư tại Mỹ và trong khóa học cùng họ. Networking là một công việc tối quan trọng của người hành nghề luật. Bởi vậy, nhiều người tham gia khóa học hè hoặc thạc sĩ ở nước ngoài chỉ vì mục đích này.

          – Các lí do đặc biệt:

          Ở Thái Lan, 1 trong 3 con đường để tham dự kì thi tuyển thẩm phán là có 2 bằng thạc sĩ luật tại nước ngoài. Bởi vậy có rất nhiều người Thái tới Mỹ lấy 2 bằng thạc sĩ. Và cũng không có quy định nào hạn chế mỗi người chỉ được có 1 bằng thạc sĩ luật cả.

          Nhiều người bạn Trung Quốc của tôi nói rằng họ học JD chỉ vì cho rằng JD là bằng cấp quan trọng nhất trong đào tạo luật, hoặc họ muốn trải nghiệm luật sư ở Mỹ được đào tạo thế nào. Điều oái oăm là mặc dù học JD, 99% trong số họ xác định sẽ quay trở về Trung Quốc làm việc. Phải công nhận chính sách một con đã thể hiện được mặt tích cực của nó khi con một không phải lo lắng nhiều đến vấn đề kinh tế nữa.

          Tranh thủ học khi theo người nhà đến Mỹ.

5. Học bổng

          Học ở Mỹ, cái gì cũng thích, chỉ có tiền là tốn nhiều. Mức học phí trường luật ở Mỹ thực sự quá đắt đỏ. Trung bình mỗi năm $47,000 tiền học và $15,000 sinh hoạt phí (con số thay đổi tùy trường và bang). Sinh viên bản xứ cũng phải vay nợ chính phủ để đi học chứ đừng nói đến sinh viên quốc tế chật vật mức nào. Rất nhiều bạn muốn xin học bổng nhưng thực sự các bạn đã hiểu câu chuyện đằng sau nó? Tại sao trường ở Mỹ cho học bổng? Làm thế nào để có học bổng?

          Xuất sắc không phải là tất cả. Nhiều người nghe nói đến đi du học và có học bổng là nghĩ ngay đến chắc họ phải xuất sắc lắm. Cũng không chắc.

          Chính phủ Mỹ bảo trợ công dân của họ rất tốt. Người bản xứ học JD có mức học phí riêng. Người nào học tại bang mà họ là resident thì chỉ cần đóng một nửa. Người đã từng phục vụ trong quân ngũ nhiều khi được miễn toàn bộ tiền học, kể cả là ở các trường tư. Mặc dù hầu hết sinh viên bản xứ phải vay nợ chính phủ để học luật nhưng rất nhiều trong số họ cũng được học bổng. Phổ biến là $1,000-$10,000/năm. Trường hợp nhiều hơn cũng có. Điểm LSAT và GPA đại học càng cao thì học bổng càng nhiều.

          Nhưng cũng chính vì sự ưu đãi này mà budget dành cho chương trình JD của các trường bị ảnh hưởng. Họ phải tìm nhiều nguồn khác để duy trì hoạt động như tiền đóng góp từ cựu sinh viên (alumni gift), tiền dự án nghiên cứu, các khóa học mùa hè và đặc biệt là chương trình LLM, SJD. Có thể ví LLM và SJD như thỏi nam châm hút ngoại tệ về cho mỗi trường. Câu chuyện quay trở về bài toán kinh doanh dịch vụ giáo dục.

          Học bổng LLM:

          Thời điểm dễ có học bổng LLM nhất theo tôi là ngay sau khi tốt nghiệp cử nhân luật. Trường sẽ xét đến quá trình học tập trong 4 năm của bạn. Nhiều yếu tố như GPA cao, IELTS hoặc TOEFL cao, có các bài viết được đăng trên các báo uy tín (VD như Tạp chí luật học, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,…) hoặc bài nghiên cứu được giải (VD như cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học, sách hoặc đề tài nghiên cứu cùng thầy cô giáo), học 2 bằng,… Theo kinh nghiệm bản thân, trong khi trường châu Âu đề cao khả năng học thuật thì trường Mỹ lại rất thích sự năng động ở sinh viên. Ví dụ như đã đi thực tập trong quá trình học, tham gia các cuộc thi trong ngoài nước, tham gia các hoạt động giao lưu quốc tế,…

          Điều thứ 2 trường luật ở Mỹ muốn khi tuyển sinh là tính đa dạng của khóa học, tức là họ tìm kiếm sự khác biệt. Bạn được chọn không phải vì bạn có “tính Mỹ” mà vì bạn đại diện cho một cái gì đó rất riêng của bạn, của nước bạn. Ví dụ như học 2 ngành song song (kinh tế và luật chẳng hạn), có tài lẻ, chơi thể thao, chơi nhạc cụ truyền thống, nói nhiều thứ tiếng, có giải về leadership,…

          Tại sao nói là dễ nhất? Vì trong 4 năm học bạn có nhiều thời gian và cơ hội để làm giàu bản thân mình. Còn nếu ra đi làm 1-2 năm thì với các vị trí khởi điểm, bạn không có gì nhiều để ghi vào CV. Hơn nữa, đã đi làm tức là bạn coi như đã có khả năng độc lập kinh tế. Vậy thì trường sẽ nghĩ bạn sẽ không cần tiền nhiều bằng những người đang hoặc mới học xong.

          Tiếp nữa là bạn có thể tranh thủ các chương trình hợp tác giữa trường luật bạn theo học và trường ở Mỹ. Cho học bổng cũng là một cách để họ PR. Bởi vậy đối tượng (có nguyện vọng làm) giảng viên và công chức nhà nước thường được ưu tiên. Thử tưởng tượng bạn nghe nói giảng viên mình thích hoặc thẩm phán tòa tối cao từng học ở trường đó thì bạn có thích chọn trường đó hơn không? Tiền học bổng họ cho đi chính là khoản đầu tư dài hạn để có lợi ích kinh tế về sau này.

          Thực ra, nếu nói là thời điểm TỐT nhất để đi học thạc sĩ, có lẽ luôn là vài năm sau khi bạn đã đi làm. Bởi khi đã đi làm bạn biết bạn muốn học gì hơn. Nhưng chưa chắc lúc đó bạn đã DỄ xin được học bổng.

          Học bổng SJD:

          Gần như 100% dành cho học giả, giảng viên, công chức nhà nước. Nhưng thông thường đối tượng này sẽ phải xin học bổng từ chính phủ hoặc tổ chức tài trợ họ.

          Học bổng JD:

          JD quả thực có chương trình đào tạo cực kì hay, rất khác biệt so với LLM.

          Nếu bạn có LSAT thật cao, khoảng 160 trở lên thì khả năng có học bổng càng lớn.

          Nếu bạn có bằng cử nhân về kĩ thuật, y dược, vật lý, toán, tài chính ngân hàng, công nghệ thông tin,… thì khả năng trường luật nhận bạn vào học và cho học bổng càng cao. Vì những bằng này thể hiện trình độ của bạn, nói nôm na là không làm giả được. Và background trong các ngành này cũng khiến bạn dễ xin việc vào các văn phòng luật hơn sau khi tốt nghiệp.

          Nếu bạn có bằng cử nhân luật và đặc biệt đã hành nghề được một thời gian thì hầu như bạn sẽ không được cho học bổng. Vì khi đặt bạn lên bàn cân so sánh cùng các ứng viên khác, bạn có hiểu biết về luật quá nổi trội. Như vậy là không công bằng. Chưa nói đến câu chuyện xin visa sang Mỹ sẽ khó khăn hơn khi bạn quá giỏi, độc lập kinh tế và không có vướng bận gì ở nước sở tại. Chẳng có gì chứng minh nổi bạn sẽ trở về sau khi học xong.

          Những người đã đi làm mà muốn đi học JD thì thường tự bỏ tiền hoặc do công ty tài trợ tiền với yêu cầu cam kết quay trở lại làm việc.

          Nói tóm lại, ngoài những thứ hiển nhiên như khả năng học thuật và ngôn ngữ, nếu bạn biết được lí do kinh tế như trên thì bạn có thể định hướng tốt hơn khi xin học bổng học luật tại Mỹ.            

 

6. Internship, externship, clerkship, clinical practice, research assistant, journal editor,…

          Một lí do khiến việc học JD ở Mỹ rất hay là vì có rất nhiều cơ hội thực hành trong quá trình học. Nghe có vẻ hoa mỹ nhưng thực chất là để thử lửa xem bạn thích làm gì về sau (in-house counsel, public interest, prosecution, transactional, litigation,…); networking với giới luật sư; tìm việc sau khi tốt nghiệp (nếu thể hiện tốt, có những nơi sẽ đảm bảo tuyển bạn luôn); đi du lịch; và tất nhiên, làm đẹp CV.

          Phòng thực hành luật của trường (legal clinic) và văn phòng Career Development Office luôn có rất nhiều thông tin về internship, externship, clerkship, clinical practice cho bạn apply. Ở Mỹ đang có tranh cãi về việc trong tương lai mọi công việc thực tập đều phải có thù lao và phải ít nhất phải bằng mức lương tối thiểu.  Còn hiện tại, quan điểm phổ biến là các vị trí này hoặc sẽ có thù lao hoặc sẽ được tính vào số tín chỉ học.

          Internship là công việc thực tập, có hoặc không lương. Là vị trí ngắn hạn. Có nhiều công ty luật cứ mỗi mùa hè lại tổ chức internship program trong 8 – 12 tuần dành cho sinh viên luật. Thực tập sinh sẽ được đào tạo, được tham gia vào các vụ việc, được giao những công việc cụ thể như viết memo, brief,…

          Externship khá giống internship, nhưng được coi là “shadow position”. Tức là hầu như chỉ được đi theo luật sư để quan sát học hỏi, không có vị trí cũng không được tham gia hoặc giao công việc.

          Clerkship là vị trí thực tập hỗ trợ các thẩm phán hoặc văn phòng công tố. Khi thẩm phán nhận một vụ việc, họ sẽ cho bạn đọc tất cả các tài liệu, đơn khởi kiện, chứng cứ của cả nguyên đơn và bị đơn. Nhiệm vụ của clerk là legal research vấn đề và viết memo phân tích một cách khách quan vụ việc để giúp thẩm phán đưa ra phán quyết.

          Clinical practice là vị trí thực hành luật trong phòng thực hành pháp luật tại trường (legal clinic). Thường chỉ có sinh viên năm cuối được làm. Cơ bản là họ sẽ tiếp nhận vụ việc, legal research, viết memo, brief, thu thập chứng cứ, nói chuyện với khách hàng, ra tòa bảo vệ thân chủ,… như một luật sư thực thụ. Nhưng họ luôn phải được giám sát bởi một giáo sư phụ trách trong clinic. Đặc biệt khi ra tòa trình bày họ luôn phải có giáo sư ngồi bên.

          Research assistant là người phụ giúp giáo sư nghiên cứu cho dự án hoặc bài viết nào đó. Đây là công việc có trả lương.

          Journal editor. Mỗi trường luật đều có một hoặc nhiều tạp chí pháp luật của mình về nhiều mảng như international law, IP law,… Điểm đặc biệt là giáo sư chỉ là người chịu trách nhiệm cao nhất, còn lại tất cả các vị trí như editor, editor-in-chief đều do sinh viên trong trường đảm nhiệm. Họ tiếp nhận các bài viết, kiểm tra trích dẫn, chất lượng bài viết và lựa chọn để in vào journal của trường. Nhiều người không biết rằng quyển Bluebook – A Uniform Syste of Citation nổi tiếng cũng được tổng hợp bởi toàn sinh viên. Chỉ có những sinh viên xuất sắc sau năm nhất mới được nhận vào làm trong journal. Dù vậy, nhiều người gọi công việc này là “cheap labour” vì đầu tư chất xám rất nhiều mà không có lương.

 

7. Paralegal vs. trainee lawyer        

          Đây cũng là sự khác biệt rất đáng lưu ý giữa việc bắt đầu thực hành luật ở Việt Nam và ở Mỹ.

          Ở Việt Nam, ngay sau khi tốt nghiệp, cử nhân luật có thể xin vào làm việc tại các văn phòng. Vị trí bắt đầu thường là intern, sau đó là paralegal, rồi trainee lawyer, associate, senior associate, junior partner, partner, managing partner,… Paralegal được coi là một vị trí bắt đầu của người muốn trở thành luật sư. Nó nằm trong chuỗi thăng tiến công việc của một lawyer-to-be. Thường sau khi đã lấy được bằng luật sư, bạn mới được thăng tiến thành trainee lawyer.

          Trong khi đó ở Mỹ, paralegal nằm tách biệt hoàn toàn khỏi legal career path. Module Rule of Professional Conduct quy định các nguyên tắc cho hành nghề luật sư. Trong đó, tất cả các luật sư làm trong cùng một công ty luật chịu trách nhiệm liên đới. Paralegal không nằm trong số đó. Yêu cầu tuyển dụng paralegal cũng không cần có bằng cấp liên quan tới luật. Cùng lắm là yêu cầu có chứng chỉ paralegal (đào tạo trong 1 năm). Paralegal chỉ làm một công việc duy nhất là research, tìm kiếm cases và statutes cho từng vụ việc. Trong khi đó lawyer là người nhận các file research sẵn đó để nghiên cứu, viết thành memo hoặc brief. Sinh viên luật ở Mỹ thường chỉ làm internship khi còn đi học. Khi tốt nghiệp, họ phải thi đỗ bar và bắt đầu công việc với vị trí trainee lawyer.

          Có một số nhà tuyển dụng ở Mỹ dị ứng với JD từng làm paralegal trước đó. Nếu có đủ khả năng tại sao không học luật sư ngay từ đầu mà lại làm paralegal. Họ cho rằng như vậy là thiếu tham vọng hoặc khả năng có hạn.

 

8. Các hình thức kiểm tra trong trường luật ở Mỹ

          Vậy một ngày điển hình của sinh viên luật ở Mỹ là gì? Đơn giản là đọc, đọc, đọc, lên lớp, đọc, đọc, đọc, ăn, ngủ, và lại đọc. Học luật tức là phải đọc rất nhiều và đọc rất khó. Ngay đến những sinh viên bản xứ cũng cảm thấy khó khăn khi phải làm quen với cuộc sống trong trường luật. Họ thậm chí chỉ ngủ 3 – 5 tiếng/ngày.

          Hầu hết các môn học chỉ có 1 bài kiểm tra duy nhất cuối kì. Vậy tại sao họ phải căng sức hàng ngày như vậy? Thứ nhất là vì kiến thức quá nhiều. Các nguyên tắc (rule, principle, test) được dạy thông qua các vụ việc cụ thể. Với mỗi vấn đề pháp luật ở Mỹ, quan điểm lại rất khác nhau tùy thời điểm, tùy luật từng bang (jurisdiction). Bởi vậy cách duy nhất để hiểu rõ, nhớ và áp dụng được chính là đọc cases, chuẩn bị bài kĩ trước khi lên lớp. Thứ hai là vì phương pháp dạy socratic. Tài liệu được giao cho sinh viên đọc trước. Khi lên lớp, giáo sư gọi bất chợt sinh viên trả lời câu hỏi và cả lớp cùng thảo luận sâu vào vấn đề. Nếu không trả lời được sẽ cảm thấy không thoải mái, bị đánh dấu tên và thậm chí bị trừ điểm. Thứ ba là vì hầu hết sinh viên đều chịu khoản nợ học phí khoảng $100,000. Họ đánh cược để vào trường luật và sẽ phải bắt đầu trả nợ ngay sau khi tốt nghiệp. Bởi vậy, họ buộc phải học tốt để kiếm được công việc sau này.  

          Trường luật ở Mỹ cũng áp dụng đa dạng hình thức kiểm tra, phụ thuộc vào ý muốn của từng giáo sư cho lớp của họ.   

          – Phổ biến nhất là kiểm tra viết cuối kì (in-school exam). Mặc dù mỗi buổi thi thông thường 2 – 4 tiếng liên tục nhưng sinh viên vẫn không đủ thời gian để phân tích hết tất cả các vấn đề. Đề bài thường có 2 vụ việc giả định. Sinh viên được yêu cầu nêu tất cả các arguments có thể để bảo vệ cho nguyên đơn hoặc bị đơn. Một số giáo sư cũng cho thêm phần trắc nghiệm. Tuy nhiên câu hỏi sẽ không hiển nhiên như  luật  quy định thế nào, mà luôn là vụ việc giả định với câu hỏi “đâu là argument mạnh nhất”, “đâu là argument yếu nhất”, “đâu là kết quả có khả năng nhất mà tòa sẽ đưa ra”,…

          – Tiếp theo là take-home exam. Thời gian có khi thoải mái từ đầu kì, nhưng chủ yếu là 24 hoặc 36 tiếng. Sinh viên được yêu cầu viết paper, memo hoặc brief dựa trên đề bài.

          – Midterm exam. Kiểm tra giữa kì, thường là paper về nhà.

          – Quiz. Cứ mỗi đầu tuần giáo sư lại cho làm quiz 5 phút đầu giờ về nội dung học của tuần trước và phần đọc của tuần này.

          – Clicker questions. Giống như trong Ai là triệu phú có phần hỏi ý kiến khán giả trong trường quay. Tại lớp học ở đây giáo sư hỏi ý kiến toàn bộ sinh viên trong lớp và tính tỉ lệ trả lời các đáp án. Mỗi sinh viên có một clicker. Mỗi lớp có một channel riêng. Các câu hỏi clicker vẫn được tính vào điểm tích lũy của lớp học.

          – Group assignment. Báo cáo theo nhóm.

          – Presentation. Thuyết trình trên lớp.

          – Các môn kĩ năng như legal writing thì điểm sẽ rải đều với các assignment trong kì học như viết memo, brief, note (directed research paper).

          Thông thường mỗi lớp học chỉ áp dụng in-school hoặc take-home exam là bài kiểm tra duy nhất để lấy điểm cả kì. Tuy nhiên cũng có giáo sư áp dụng nhiều loại vào chung một lớp. Mọi thứ phụ thuộc rất nhiều vào ý kiến chủ quan của giáo sư muốn dùng cách nào để đánh giá sinh viên chính xác nhất.    

          Điểm khác biệt của nền giáo dục luật ở Mỹ là solution-based. Tức là coi trọng giải pháp. Khi viết một paper, sinh viên được yêu cầu sau khi xác định được vấn đề (problem/issue) thì chỉ đề xuất 1 giải pháp duy nhất (solution). Giải pháp đó được đặt trang trọng làm đề tài (thesis). Toàn bộ paper không dành để miêu tả background, nguyên nhân, hậu quả của vấn đề tồn tại mà để nêu ra các lí do chứng minh giải pháp mình nêu ra là có giá trị. Đây là điểm rất khác biệt đối với việc viết nghiên cứu ở Việt Nam. Phổ biến vẫn là vấn đề (problem/issue) được đặt làm đề tài (thesis). Toàn bộ thời lượng bài viết được chia đều để nói về background, nguyên nhân, mô tả và hậu quả của vấn đề. Phần giải pháp (solution) được đặt ở cuối cùng, thường có rất nhiều và không cần chứng minh tính ứng dụng. 

Thông tin liên hệ Kênh Du Học:

Địa chỉ:  Địa chỉ: 103 B2 – Tập Thể Đồng Xa – Mai Dịch – Cầu Giấy – Hà Nội (Đối diện ngõ 243 Mai Dịch)

ĐTDĐ:  Ms.Hương Đỗ 04.66.86.31.86 – 0984.761.634 – 096.428.0101

Email: info@kenhduhoc.vn

www.kenhduhoc.vn – https://www.facebook.com/kenhduhoc.vn

Page tư vấn: https://www.facebook.com/DuHocHuongDo

Kênh du học, chắp cánh ước mơ du học của bạn với một lộ trình rõ ràng!